Văn tế cụ Rùa

 Hỡi ôi !

Loài Giải sông Hồng;

Thành “Rùa sách đỏ”.

Ngàn năm cặm cụi, bắt tép tìm tôm ở  đáy Hồ;

Một lần vô tình, nổi lên găp ngay thuyền Lê Lợi;

Gọi “Rùa Hồ Gươm” linh thiêng từ đấy.

Nhớ khi xưa

Hồng Hà rộng lớn;

Vùng vẫy thành quen.

Chỉ biết sông sâu, đâu bơi hồ cạn;

Quen bắt cá tôm, ở ngoài sông rộng.

Việc bơi, việc lội, việc đớp, việc lùa, vốn dĩ quen làm;

Tập tránh, tập nhìn, tập tìm, tập kiếm, chưa từng phải biết.

Đêm ngắm gió sông đủ mười hai tháng, trông chờ mùa nước mới chén mồi ngon;

Ngày bơi loanh quanh vào bờ ra bụi, tìm miếng rong rêu cho lòng thanh thản.

 

Bữa thấy cá con quậy thấy ghét, tức đuổi cho vui;

Ngày nhìn đám rong trôi thành bầy, muốn theo đớp hết.

Mải mê  bơi dọc bơi ngang, vào hồ Lục Thủy không hay;

Mênh mông hồ rộng nước xanh, không thấy đường ra sông lón.

Từ đấy lập thành đàn, kết bạn cùng những chàng Giải đẹp;

Lấy Lục Thủy làm nhà, không còn ngao du sông nước nữa.

Thật thương thay!

Thời công nghiệp người nhiều,  thải lắm, theo dòng đổ xuống hồ xanh;

Phố xây thêm lấn bãi, lấp dòng, đâu còn xanh lục như xưa.

Mấy trăm năm kinh nghiệm, phải tự luyện rèn;

Học các chước loài giun, thêm nghề chiu lủi.

Ngoài hồ có cái gì ăn vậy, còn đâu được kén cá, chọn rêu;

Nước có mùi cũng phải nuối thôi, bởi  từ  phố Bà Trưng, Bà Triệu.

Thịt rơi của nhà hàng Thủy Tạ, đớp cho xong  bữa chiều tháng bảy;

Rau dư của mấy người Hà Nội, cũng tạm thay rong rêu lục thủy.

Nhọc nhằn khi hợp tác xã quản lý hồ, thả lưới bủa vây, bắt cá làm thực phẩm;

Phải tránh xã viên phóng xà beng mũi nhọn, phá lưới  thoát thân, liều mình giữ mạng sống.

Ôi!

Thời gian vật đổi thay lòng, đâu biết ngày nay lại vậy.

Hồ Lục Thủy rộng sâu là thế, bỗng thành một cái ao con;

Phố xây quanh thải cặn chặn dòng,  nước xanh thành xám.

Đoái sông Hồng Hà, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;

Nhìn nhà Thủy tạ,  mắt cay hai hàng lụy nhỏ.

Chẳng cần nhà thông minh, phòng cấp cứu, cho tốn tiền con cháu Lạc Long;

Chỉ muốn xanh lục thủy, như ngày nào, vẫy vùng cho thỏa trí Ba Ba.

Nhưng nghĩ rằng!

Tích đòi gươm vua Lê Lợi, đã lỡ có từ ngàn xưa;

Nay được trong ao nhân tạo, kệ cho các người nghiên cứu.

Chỉ buồn thay một việc cỏn con, mà khổ ngàn dân;

Mất hàng tỷ nào cào nào lưới, cho vài gam thuốc.

Sống chỉ làm thí nghiệm hy sinh, cho giáo sư, cho tiến sỹ, về loại bò sát;

Sống để ngày ngày bơi lấy dáng, hết quay phim, lại chụp hình, tốn hao giấy mực.

Thà thác mà được câu cảm khái, lên bãi Ngọc Sơn thờ phụng;

Còn hơn sống làm vật nuôi hèn, bắt lên thả xuống mà đau.

Ôi thôi thôi!

Đền Ngọc Sơn năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son xin gửi lại bóng trăng rằm;

Tháp Rùa nổi không có bãi bò lên, làm sao cho loài mình ấp trứng sinh con.

Đau đớn mấy, vài năm sau mất giống, lấy ai làm vui vẻ ngày xuân;

Thật buồn thay, có chụp ảnh hồ gươm, không còn “Rùa” để bàn cãi.

Ôi!

Một nhát xà beng

Nằm phơi nền đá.

Còn nhiều đường xả chất thải vào hồ, thì sao có mặt nước như xưa;

Bộ sở ban ngành ngay ở thủ đô, có cứu được một loài giải nhỏ.

Thác để được nâng lưu thờ phụng, danh thơm đồn cả nước đến xem;

Thác được cưng lên đền Ngọc Sơn, tiếng hay cho muôn đời ngưỡng mộ.

Sống linh thiêng, chết cũng linh thiêng, linh hồn giúp nhân dân, muôn kiếp nguyện được vì dân;

Sống ở hồ, chết cũng ở hồ, xác nằm sân đền ngọc, một thân vì khoa học mãi.

Phỏng theo “Văn tế nghĩa sỹ Cần Guộc”

                      Trần Tiến K10IA

 

 

Gửi lời bình

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s